Du lịch Đà Lạt – Dalat In My Heart Travel

Đà Lạt – Thành phố ngàn hoa

Đà Lạt nổi tiếng với nhiều tên gọi khác nhau như: thành phố ngàn hoa, thành phố mộng mơ, hay thành phố sương mù,…Thiên nhiên và con người Đà Lạt đi vào những áng văn thơ, những bức tranh ảnh, vào nghệ thuật, và trong tim mỗi người. Song dù có cố gắng miêu tả thế nào, chỉ khi tự mình đặt chân đến, bạn mới có những cảm nhận thật nhất của riêng mình về một Đà Lạt mù sương.

1.Giới thiệu về Đà Lạt.

Đà Lạt là thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng nằm trên Cao nguyên Lâm Viên, ở độ cao 1.500 m so với mặt nước biển nên khí hậu quanh năm mát mẻ, và diện tích tự nhiên: 393,29 km²,thuộc vùng Tây Nguyên của nước Việt Nam. Hàng trăm năm trước đây, Đà Lạt là địa bàn cư trú của người Lạch, vốn là cư dân của toàn bộ cao nguyên Lang Biang.
Với nhiều cảnh quan đẹp, Đà Lạt là một trong những thành phố du lịch hấp dẫn được du khách mọi nơi. Trong thời Pháp thuộc, tên tiếng Latin Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem có nghĩa là “cho những người này niềm vui, cho những người khác sự mát mẻ”.

2.Vị trí địa lý

Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng. Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng.
Đà Lạt là một thung lũng trên cao xa xôi hẻo lánh, được bao bọc bởi các đỉnh núi cao và các dãy núi trùng trùng điệp điệp nối nhau liên tiếp. Nơi cao nhất tại trung tâm thành phố là Dinh tỉnh trưởng (1532m) phía sau chợ Đà Lạt và thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1 398m).

3.Khí hậu

Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới. Nhiệt độ trung bình 18–21°C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 30°C và thấp nhất không dưới 5°C.Chính những rừng thông giúp cho Đà Lạt thêm phần mát mẻ
Đà Lạt có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4. Mùa hè thường có mưa vào buổi chiều, đôi khi có mưa đá. Ngoài ra, và rất nhiều nhận xét thời tiết Đà Lạt một ngày có 4 mùa ( buổi sáng mùa xuân, trưa đến mùa hạ,chiều về mùa thu vầ đêm đến thì mùa đông) Lượng mưa trung bình năm là 1562 mm và độ ẩm 82%. Đặc biệt, Đà Lạt không bao giờ có bão, chỉ có gió lớn do ảnh hưởng bão từ biển thổi vào vì sườn đông không có núi che chắn.

4. Lịch sử hình thành và phát triển.

Cao nguyên Lang Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú của các dân tộc người K’Ho. Người Việt đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định của mình.

Bác Sỹ Alexandre Yersin người Pháp với nhiệm vụ là tìm ra một địa điểm có khí hậu tương đồng với nước Pháp, nhằm xây dựng trạm nghỉ dưỡng cho quân nhân người Pháp tại Việt Nam của toàn quyền Paul Doumer, đã phát hiện ra cao nguyên Lang Biang vào 15h30 ngày 21/ 6/ 1893, trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt “3h30: grand plateau dénudé mamelonné” (3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, gò đồi nhấp nhô).

Ngày 1 / 11 / 1899, Doumer ký nghị định thành lập ở Trung Kỳ tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut-Donnai) và hai trạm hành chính được thiết lập tại Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang. Đó có thể được xem là văn kiện chính thức thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày 20 / 4/ 1916, vua Duy Tân đã ra đạo dụ thành lập thị tứ, tức thị xã (centre urbain) Đà Lạt, tỉnh lị tỉnh Lâm Viên. Đạo dụ này được Khâm sứ J.E. Charles chuẩn y ngày 30 tháng 5 năm 1916.

Trong hai thập niên 1900 và 1910, người Pháp đã xây dựng hai tuyến đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Đà Lạt. Hệ thống giao thông thuận lợi giúp Đà Lạt phát triển nhanh chóng.
Vào năm 1893, vùng Đà Lạt ngày nay hầu như hoang vắng, đến đầu năm 1916, Đà Lạt vẫn còn là một khu thị tứ nhỏ với độ 8 căn nhà gỗ tập trung hai bên bờ dòng Cam Ly, chỉ có 9 phòng khách sạn phục vụ du khách, đến cuối năm này mới nâng lên được 26 phòng. Cuối năm 1923, đồ án thiết kế đầu tiên hoàn thành, Đà Lạt đã có 1.500 dân.

Cuối tháng 10 năm 1920, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuẩn y đạo dụ ngày 11 tháng 10 cùng năm của vua Khải Định về việc thành lập thành phố (commune- thành phố loại 2) Đà Lạt cùng với việc tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập. Nhằm biến Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ mát ở Đông Dương, Nha giám đốc các sở nghỉ mát Lâm Viên và du lịch Nam Trung Kỳ được thành lập. Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý, đại diện của Toàn quyền Đông Dương. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt. Năm 1936 một Hội đồng thành phố được bầu ra. Năm 1941, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Lâm Viên (Lang Bian) mới tái lập. Thị trưởng Đà Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

Trong thời gian Thế chiến thứ hai, những người Pháp không thể về chính quốc nên họ tập trung lên nghỉ ở Đà Lạt. Nhiều nhu cầu như rau ăn, hoa quả của người Pháp cũng được Đà Lạt cung cấp.

Ngày 10 tháng 11 năm 1950, Bảo Đại ký Dụ số 4-QT/TD ấn định địa giới thị xã Đà Lạt.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân số Đà Lạt tăng nhanh bởi lượng người di cư từ Bắc vào Nam. Dưới chính quyền miền Nam, Đà Lạt được phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học.
Năm 1957, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ tỉnh Tuyên Đức. Thị xã Đà Lạt có 10 khu phố.

Nhiều trường học và trung tâm nghiên cứu được thành lập: Viện Đại học Đà Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959), Thư viện Đà Lạt (1960), trường Đại học Chiến tranh Chính trị (1966), trường Chỉ huy và Tham mưu (1967)… Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng và sửa chữa, hàng loạt biệt thự do các quan chức Sài Gòn, nhiều chùa chiền, nhà thờ, tu viện được xây dựng… Đà Lạt cũng là một điểm hấp dẫn với giới văn nghệ sĩ.

Sau 1975, với sự rút đi của quân đội và bộ máy chính quyền miền Nam, nhưng được bổ sung bởi lượng cán bộ và quận đội miền Bắc, dân số Đà Lạt ổn định ở con số khoảng 86 ngàn người. Du lịch Đà Lạt hầu như bị lãng quên. Những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, hàng loạt khách sạn, nhà hàng được sửa chữa, nhiều biệt thự được đưa vào phục vụ du lịch… Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch quan trọng của Việt Nam với nhiều lễ hội được tổ chức.

Cuối năm 1975 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định Đà Lạt sẽ trở thành 1 trong 4 thành phố trực thuộc Trung ương, nhưng ngay sau đó đã điều chỉnh lại. Tháng 2 năm 1976 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp nhất tỉnh Tuyên Đức, tỉnh Lâm Đồng và thị xã Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng. Thị xã Đà Lạt trở thành thành phố tỉnh lỵ tỉnh Lâm Đồng.

5. Kinh tế

Kinh tế chính của Đà Lạt là du lịch và nông nghiệp.

Về Du lịch: Được ví như một tiểu Paris thu nhỏ, và được thiên nhiên ưu ái về khí hậu mát mẻ, bảng lảng sương mù và cảnh quan thiên nhiên thơ mộng với núi, hồ, hoa lá, và nhiều công trình kiến trúc độc đáo… nên Đà Lạt trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, ngành du lịch chiếm đến 70% GDP của thành phố.


Về nông nghiệp: Quy mô diện tích gieo trồng đối với cây hàng năm xu hướng tăng lên qua các năm do điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, đẩy mạnh khai hoang, phục hóa trên diện tích có khả năng nông nghiệp chưa sử dụng và tăng vụ, trồng xen, trồng gối. Đà Lạt cũng đã khẳng định được thương hiệu về rau sạch và hoa được trồng và sản xuất theo công nhệ cao như: Dâu Tây, Khoai Tây, Hoa, cà chua,… Hiện nay Đà Lạt đang có các khu vực chuyên canh về cây trồng nổi tiếng, tạo lên thương hiệu riêng của thành phố như làng hoa Vạn Thành, làng hoa Thái Phiên, làng hoa Hà Đông, chợ nông sản Trại Mát…

Ngoài ra, Tài nguyên rừng Lâm Đồng phong phú, đa dạng, với trên 618 ngàn ha rừng với tổng trữ lượng trên 61 triệu m3 gỗ và gần 662 triệu tấn tre, nứa. Rừng ở Lâm Đồng nhiều vùng còn nguyên sinh, ban sơ với nhiều thực, động vật, chủng loại đa dạng, đặc biệt của rừng Lâm Đồng là đặc dụng và phòng hộ. Nguồn tre, nứa, lồ ô khá dồi dào, trữ lượng lớn, tập trung ở các huyện phía Nam như Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Do mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, đất đai phù hợp nên các loài tre, nứa, lồ ô có tố độ tái sinh rất nhanh sau khi khai thác.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *